|
HỎI &
ĐÁP
Câu 1. Tôi muốn hỏi về khái niệm
thị trường chứng khoán, nguyên tắc hoạt
động của TTCK?
Câu 2. Xin cho biết việc phát
hành chứng khoán được thực hiện như thế nào?
Câu 3. Tôi muốn hỏi một số hệ số tài chính cơ bản?
Câu 4.
Xin hướng dẫn cho tôi biết các bước để tham gia mua bán chứng khoán niêm yết
tại SGDCK Hà Nội?
Câu 5. Xin cho biết phương pháp xác định giá tham chiếu của chứng
khoán niêm yết tại SGDCK Hà Nội được xác định như thế nào?
Câu 6.
Xin cho biết ngày giao dịch không hưởng cổ
tức là gì?
Câu 7. Xin vui lòng hướng dẫn chi tiết về Bản cáo bạch
?
Câu 8. Xin cho hỏi giá cổ phiếu của một công ty khi niêm yết phụ
thuộc vào điều gì?
Câu 9. Cách tính chỉ số HNX -
INDEX?
Câu 1.
Tôi muốn hỏi về khái niệm
thị trường chứng khoán, nguyên tắc hoạt
động của TTCK?
Thị trường chứng khoán (TTCK) trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại,
được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán
trung và dài hạn.
Việc
mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng
khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có
sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp.
Như vậy,
xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán,
chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng
khoán. TTCK có những chức năng cơ bản sau:
1. Chức năng cơ bản của TTCK
-
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
-
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
-
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
-
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo
môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
2. Các chủ thể tham gia TTCK
Các tổ
chức và cá nhân tham gia TTCK có thể được chia thành các nhóm sau: tổ chức
phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.
a) Tổ chức phát hành
Tổ chức
phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK. Tổ chức phát
hành là tổ chức cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của TTCK.
-
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ
và trái
phiếu địa phương.
-
Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
-
Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái
phiếu,
chứng
chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của họ.
b) Nhà đầu tư
Nhà đầu
tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư có thể
được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
c) Các tổ chức kinh doanh trên TTCK
- Công
ty chứng khoán
-
Quỹ đầu tư chứng khoán
-
Các trung gian tài chính
d) Các tổ chức có liên quan đến TTCK
-
Cơ quan quản lý Nhà nước
-
Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán
-
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ
chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
-
Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
- Các
tổ chức tài trợ chứng khoán
-
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm...
3. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK
TTCK
hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau:
-
Nguyên tắc công khai
-
Nguyên tắc trung gian
- Nguyên
tắc đấu giá
4. Cấu trúc và phân loại cơ bản của TTCK
TTCK là
nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái
phiếu, các khoản vay ngân hàng... có kỳ hạn trên 1 năm). Sau đây là một số
cách phân loại TTCK cơ bản:
a) Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
TTCK
được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
- Thị
trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị
trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang tổ chức phát hành thông qua
việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
-
Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên
thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
b) Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
TTCK
được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập
trung (thị trường OTC).
c) Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
TTCK
cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường
trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh.
-
Thị trường cổ phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao
gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
-
Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các trái
phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty,
trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
-
Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và mua
đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền,
hợp đồng quyền chọn...
Câu
2. Xin cho biết
việc phát
hành chứng khoán được thực hiện như thế nào?
1.
Khái niệm về phát hành chứng khoán
Việc
chào bán lần đầu tiên của một loại chứng khoán mới được gọi là phát hành chứng
khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức
lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng.
Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán
cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ
sung. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều được phát hành chứng khoán
mà chỉ những chủ thể phát hành mới có được quyền này.
2.
Phương thức phát hành chứng khoán
Có 2
phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành
riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
2.1. Phát hành riêng lẻ
Phát
hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong
phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức
có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu
trí... với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng.
Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư
cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Đa số các đợt phát hành trái phiếu
đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu
thường - cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này.
2.2.Phát hành chứng khoán ra công chúng
Phát
hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể
chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu
tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối
lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.
2.3.Ý nghĩa cơ bản của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát
hành ra công chúng
Việc
phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định những
người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao,
hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung,
nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện
để xây dựng một TTCK an toàn, công khai và có hiệu quả.
Việc
phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật Công
ty. Chứng khoán phát hành dưới hình thức này không phải là đối tượng được niêm
yết và giao dịch trên TTCK sơ cấp.
3.Bảo lãnh phát hành chứng khoán
3.1 Khái niệm
Bảo
lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các
thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và
giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên thế
giới, các ngân hàng đầu tư thường là những tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát
hành.
Tổ chức
bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán của một tổ
chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng hoa hồng.
3.2 Các phương thức bảo lãnh phát hành
Việc
bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong các phương thức sau:
-
Bảo
lãnh với cam kết chắc chắn:
là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số
chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không.
Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết chắc chắn", một nhóm các tổ chức
bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của tổ chức phát hành với
giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng (POP) và bán lại các chứng
khoán đó ra công chúng theo giá POP. Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của
các tổ chức bảo lãnh và giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết
khấu.
-
Bảo
lãnh theo phương thức dự phòng:
đây là phương thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ
sung thêm cổ phiếu thường ở các nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty
cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải
chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng
bên ngoài. Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của
công ty. Do vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua
những quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân
phối ra ngoài công chúng. Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là
việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân
phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng. Tại các nước đang
phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm lực lớn thì
phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh thông dụng
nhất.
-
Bảo
lãnh với cố gắng cao nhất:
là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh tổ chức bảo lãnh thoả
thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán
toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị
trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần
còn lại.
-
Bảo
lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không:
trong phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số
lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt
phát hành.
-
Bảo
lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa:
là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và
phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát
hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức
sàn). Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến
mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp
hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ.
Câu 3. Tôi muốn hỏi một số hệ số tài chính cơ bản?
1. Hệ
số tổng lợi nhuận:
cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động)
trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp.
Hệ số
tổng lợi nhuận = (Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua) / Doanh số
bán
Trong
thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số
tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ
số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần
có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.
2. Hệ
số lợi nhuận hoạt động:
cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để
tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Mức lãi
hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/doanh thu
Hệ số
này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt
được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận
hoạt động cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước
thuế. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả
hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.
3. Hệ
số lợi nhuận ròng:
phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh
thu của nó.
Hệ số
lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu.
Trên
thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một
ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực..)
tốt hơn thì sẽ có hệ số lợi nhuận ròng cao hơn.
4. Hệ
số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE):
phản
ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông.
ROE =
Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.
Hệ số
này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác nhau
trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì
các cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh
lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập
trên vốn cổ phần của các công ty khác.
5. Hệ
số thu nhập trên đầu tư (ROI):
được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu
và tổng tài sản.
ROI =
(Thu nhập ròng/Doanh số bán) * (Doanh số bán/Tổng tài sản).
Mục
đích của việc sử dụng hệ số ROI là để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một
công ty và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản
được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập và thu nhập trên đầu tư sẽ cao.
6. Hệ
số giá trên thu nhập (P/E):
là một
trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán
của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị
trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường
(Market Price - PM) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và
được tính như sau:
P/E =
PM/EPS
Trong
đó giá thị trường PM của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán
ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau
thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E
cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần,
hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho
từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này
thường được công bố trên báo chí.
Nếu hệ
số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao
trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất
vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và
sẽ trả cổ tức cao. Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử
người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường,
vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số
P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ, sau
đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ
phiếu XYZ.
Câu 4.
Xin hướng dẫn cho tôi biết các bước để tham gia mua bán chứng khoán niêm yết
tại SGDCK Hà Nội?
Để tham gia giao dịch mua, bán chứng khoán đang niêm yết tại SGDCK Hà
Nội bạn cần đến công ty chứng khoán để làm thủ tục mở tài khoản giao dịch
chứng khoán. Khách hàng và công ty chứng khoán sẽ ký hợp đồng mở tài khoản và
mỗi khách hàng sẽ được công ty chứng khoán mở một tài khoản riêng để theo dõi
tiền và chứng khoán của khách hàng. Để mua chứng khoán bạn phải có tiền hoặc
để bán chứng khoán bạn phải có chứng khoán trong tài khoản này. Vì vậy, bạn
phải gửi tiền vào tài khoản đó hoặc nếu đã có chứng khoán thì bạn phải lưu ký
chứng khoán cho công ty chứng khoán nơi bạn đã mở tài khoản. Sau đó, bạn có
thể thực hiện giao dịch (mua/bán) chứng khoán trên tài khoản của mình thông
qua công ty chứng khoán bằng việc viết phiếu lệnh và chuyển cho công ty chứng
khoán nhập lệnh vào hệ thống giao dịch. Kết thúc phiên giao dịch công ty chứng
khoán sẽ thông báo kết quả giao dịch cho bạn. Bạn sẽ
nhận
được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài
khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày giao
dịch (mua/ bán) thành công (đối với giao dịch thỏa thuận có khối lượng cổ
phiếu giao dịch dưới 100.000 cổ phiếu hoặc báo giá trung tâm hoặc theo lựa
chọn của hai bên tham gia giao dịch).
Câu 5. Xin cho biết phương pháp xác định giá tham chiếu của chứng
khoán niêm yết tại SGDCK Hà Nội được xác định như thế nào?
Theo Quyết định số 244/QĐ-BTC ngày 20/1/ 2005 của Bộ trưởng BTC
ban hành Quy chế tạm thời tổ chức giao dịch chứng khoán tại SGDCK Hà
Nội;và Quyết định số 245/QĐ-UBCK ngày 4/5/2005 của UBCK về
việc ban hành Hướng dẫn qui định đăng ký, giao dịch chứng khoán và công bố
thông tin bất thường của tổ chức đăng ký giao dịch chứng khoán tại SGDCK Hà Nội, giá tham chiếu được xác định như sau:
a. Giá tham chiếu của cổ phiếu đang giao dịch là bình quân gia
quyền của các giá giao dịch của ngày có giao dịch gần nhất;
b. Trường hợp cổ phiếu mới đăng ký giao dịch hoặc trường hợp chứng
khoán bị tạm ngừng giao dịch (do tổ chức đăng ký giao dịch vi phạm nghiêm
trọng chế độ công bố thông tin theo qui định của pháp luật hoặc bị tạm ngừng
trong trường hợp cần thiết để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư hoặc đảm bảo hoạt
động ổn định của thị trường), thì trong ngày giao dịch đầu tiên hoặc ngày giao
dịch trở lại, không áp dụng biên độ dao động giá;
c. Trường hợp giao dịch cổ phiếu không hưởng cổ tức và các quyền
kèm theo, giá tham chiếu tại ngày không hưởng quyền được xác định theo nguyên
tắc lấy giá bình quân gia quyền của các giá giao dịch của ngày có giao dịch
gần nhất điều chỉnh theo giá trị cổ tức được nhận hoặc giá trị các quyền kèm
theo;
d. Trường hợp tách, gộp cổ phiếu, giá tham chiếu tại ngày giao
dịch trở lại được xác định theo nguyên tắc lấy giá bình quân gia quyền của các
giá giao dịch của ngày có giao dịch trước ngày tách, gộp điều chỉnh theo tỷ lệ
tách, gộp cổ phiếu.
Câu 6.
Xin cho biết ngày giao dịch không hưởng cổ
tức là gì?
Ngày giao dịch không hưởng cổ tức là ngày mà nếu cổ phiếu được giao dịch (mua/bán)
vào ngày đó thì người mua (người sở hữu) sẽ không được hưởng cổ tức. Cổ tức sẽ
được trả cho người có tên trong danh sách hưởng cổ tức sở hữu cổ phiếu đó được
lập vào ngày đăng ký cuối cùng.
Câu
7. Xin vui lòng hướng dẫn chi tiết về Bản cáo bạch
?
1.
Bản cáo bạch là tài liệu hoặc dữ liệu điện tử công khai những thông tin chính
xác, trung thực, khách quan liên quan đến việc chào bán hoặc niêm yết chứng
khoán của tổ chức phát hành.
Khi phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty phát hành phải công bố cho
người mua chứng khoán những thông tin về bản thân công ty, nêu rõ những cam
kết của công ty và những quyền lợi cơ bản của người mua chứng khoán...để trên
cơ sở đó người đầu tư có thể ra quyết định đầu tư hay không. Bản cáo bạch
chính là một lời mời hay chào bán để công chúng đầu tư đăng ký hoặc mua chứng
khoán của công ty phát hành. Bản cáo bạch bao gồm mọi thông tin liên quan đến
đợt phát hành. Do đó, thông tin đưa ra trong Bản cáo bạch sẽ gắn với các điều
khoản thực hiện lời mời hay chào bán.
Thông thường, một công ty muốn phát hành chứng khoán phải lập Bản cáo bạch để
Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán xem xét, gọi là Bản
cáo bạch sơ bộ. Bản cáo bạch sơ bộ khi đã được chấp thuận sẽ được coi là Bản
cáo bạch chính thức. Khi thực hiện chào bán chứng khoán, ngoài Bản cáo bạch
chính thức, công ty phát hành thường cung cấp Bản cáo bạch tóm tắt. Nội dung
Bản cáo bạch tóm tắt là tóm gọn lại những nội dung chính của Bản cáo bạch
chính thức nhưng vẫn phải đảm bảo tuân thủ theo các quy định của Luật Chứng
khoán.
2. Tại sao cần phải đọc Bản cáo bạch
Bản cáo bạch là một tài liệu rất quan trọng.Với tư cách là một nhà đầu tư, Bản
cáo bạch là phương tiện giúp bạn đánh giá mức độ sinh lời và triển vọng của
công ty trước khi bạn quyết định có đầu tư vào công ty hay không. Một quyết
định thiếu thông tin có thể làm bạn phải trả giá đắt.
Bởi vậy, bạn nên đọc Bản cáo bạch một cách kỹ lưỡng và tìm hiểu rõ những may
rủi thực sự của công ty trước khi ra quyết định đầu tư. Bạn nên đánh giá cẩn
thận những yếu tố cơ bản của công ty đăng ký niêm yết thông qua nghiên cứu các
thông tin trong Bản cáo bạch. Mặc dù những đợt chào bán lần đầu ra công chúng
thường là cơ hội đầu tư tốt vì chúng thường mang lại lợi nhuận ban đầu cao, do
cổ phiếu tăng giá, nhưng rủi ro vẫn tồn tại.
3. Bản cáo bạch bao gồm những thông tin gì?
Bản cáo bạch thường gồm những nội dung sau:
- Thông tin tóm tắt về tổ chức phát hành bao gồm mô hình tổ chức bộ máy, hoạt
động kinh doanh, tài sản, tình hình tài chính, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng
thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc
hoặc Phó Tổng giám đốc và cơ cấu cổ đông (nếu có);
- Thông tin về đợt chào bán và chứng khoán chào bán bao gồm điều kiện chào
bán, các yếu tố rủi ro, dự kiến kế hoạch lợi nhuận và cổ tức của năm gần nhất
sau khi phát hành chứng khoán, phương án phát hành và phương án sử dụng tiền
thu được từ đợt chào bán;
- Báo cáo tài chính của tổ chức phát hành trong hai năm gần nhất theo quy định
tại Điều 16 của Luật này;
d) Các thông tin khác quy định trong mẫu Bản cáo bạch
4. Cách sử dụng bản cáo bạch
Bạn nên bắt đầu phân tích một công ty phát hành bằng Bản cáo bạch của công ty.
Trong quá trình thực hiện bạn nên tự đặt ra cho mình một số câu hỏi quan
trọng. Ví dụ, việc kinh doanh của công ty đó có tiến triển hay không?, doanh
số bán hàng tăng có nghĩa là lợi nhuận cũng tăng và dẫn tới giá cổ phiếu tăng.
Nhưng các con số chưa phải nói lên tất cả. Do vậy, bạn nên nghiên cứu kỹ Bản
cáo bạch để tìm ra những dấu hiệu tăng trưởng của công ty.
5. Những thông tin cần xem
- Tình hình và đặc điểm của tổ chức phát hành, các hoạt động kinh doanh, tóm
tắt về vốn cổ phần.
- Các thông tin về đợt phát hành chứng khoán: thời gian chào bán, số lượng
chứng khoán phát hành, giá bán chứng khoán, phương án sử dụng tiền thu được từ
đợt phát hành
- Thông tin về ngành kinh doanh
- Thông tin tài chính
- Thông tin về cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc
- Các đối tác liên quan tới đợt phát hành
- Các nhân tố rủi ro liên quan đến ngành kinh doanh và triển vọng của công ty
- Phụ lục
Ngoài ra bạn nên đối chiếu với các phần tương ứng khác trong Bản cáo bạch để
có được các thông tin chi tiết mà bạn cần quan tâm.
Thông
tin về ngành kinh doanh - công ty đang có những hoạt động kinh doanh gì?
Thông
tin đưa ra thường bao gồm:
-
Tình hình (các) ngành kinh doanh chính mà công ty phát hành tham gia;
- Triển
vọng của (các) ngành liên quan có ảnh hưởng tới hoạt động ngành kinh doanh
chính của công ty phát hành;
- Loại
sản phẩm, dịch vụ kinh doanh chính của công ty;
- Khách
hàng và nhà cung cấp của công ty phát hành;
- Công
nghệ, phương thức sản xuất và kênh phân phối sử dụng;
- Các
nhân tố thương mại như hệ thống bán lẻ, đại lý, hệ thống phân phối, nhãn hiệu
sản phẩm, giấy phép kinh doanh, bằng sáng chế và khả năng nghiên cứu và phát
triển.
Đối với
các công ty đăng ký niêm yết được hưởng chính sách ưu đãi thì phần thông tin
về ngành kinh doanh này trong Bản cáo bạch cũng cần phải công bố chi tiết các
vấn đề về công nghệ của những công ty này.
6.
Thông tin tài chính – công chúng đầu tư tham gia có làm lợi nhuận giảm?
Thông
tin tài chính là một phần quan trọng trong Bản cáo bạch và thường được chia
thành 2 phần:
-
Thông tin tài chính trong quá khứ;
-
Thông tin tài chính trong tương lai.
a)
Phần thông tin tài chính trong quá khứ
Thường
bao gồm tóm tắt các bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán, và bảng cân đối
kế toán (trên cơ sở tổng hợp) theo mẫu, được trích ra từ Báo cáo của kiểm
toán trong phần phụ lục của Bản cáo bạch. Một số ngành kinh doanh còn yêu cầu
cung cấp cả thông tin về luồng thu nhập. Việc công bố thông tin tài chính
trong quá khứ thường được tính từ 2 năm tài chính trước. Thông tin phải đi kèm
với phần giải thích và phân tích hoạt động tài chính trong quá khứ. Nếu có
bất cứ một sai sót nào trong các thông tin tài chính được công bố mà Uỷ ban
Chứng khoán phát hiện được thì tổ chức kiểm toán cũng như tổ chức bảo lãnh
phát hành phải chịu trách nhiệm liên đới trước pháp luật cùng với tổ chức phát
hành.
b)
Phần thông tin tài chính tương lai
Gồm các
dự tính về:
-
Doanh thu
- Lợi
nhuận trước thuế trước và sau khi tính lãi cho cổ đông thiểu số ngoài công ty
- Lợi
nhuận sau thuế
- Tổng
cổ tức và cổ tức ròng.
Từ dự
tính về lợi nhuận và giá chào bán cổ phiếu của công ty phát hành, bạn có thể
tính ra các mức giá thị trường của một cổ phiếu tính theo thu nhập trên mỗi cổ
phiếu trong năm của công ty phát hành (được ký hiệu là P/E). Hệ số này cho
thấy khi nào thì giá cổ phiếu phù hợp với thu nhập. Tức là các công ty có
nhiều cơ hội tăng trưởng thường có P/E cao hơn các công ty có ít cơ hội tăng
truởng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý trường hợp P/E cao có thể là do mức thu nhập
(E) thấp. Căn cứ vào hệ số P/E, cùng với sự phân tích về mặt chất lượng của
công ty phát hành, bạn có thể đánh giá đợt phát hành, chào bán cổ phiếu của
công ty so với các mức cổ phiếu đã được niêm yết của các công ty trong cùng
ngành.
7. Cổ
đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc – những ai là người điều hành đợt phát
hành
Bạn nên
đọc danh sách các cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Mặc dù các dữ
liệu đưa ra không phải là con dấu đảm bảo về chất lượng kỹ năng quản lý của họ,
nhưng bạn vẫn có thể biết được trình độ chuyên môn và kinh nghiệm quản lý của
những con người này.
Bạn cần
chú ý các quyền lợi của các cổ đông lớn, Hội đồng quản trị và đội ngũ lãnh đạo
chủ chốt trong các ngành tương tự hoặc các ngành cạnh tranh nếu chúng được nêu
trong Bản cáo bạch. Bạn cũng nên chú ý các giao dịch trong quá khứ hoặc trong
tương lai với các công ty liên quan. Bản cáo bạch sẽ cung cấp đầy đủ các nhóm
thành viên sau:
-
Cổ đông lớn và các nhà sáng lập của công ty phát hành, kể cả tên và cổ phần
của các cá nhân đứng đằng sau công ty;
- Hội
đồng quản trị bao gồm cổ phần mà họ đại diện, chi tiết về trình độ, kinh
nghiệm và phần trách nhiệm của mỗi giám đốc, và họ có phải là các giám đốc
điều hành hay không;
-
Đội ngũ cán bộ quản lý dưới cấp uỷ viên Hội đồng quản trị, chi tiết về trình
độ, kinh nghiệm và phần trách nhiệm của họ;
-
Tỷ lệ sở hữu cổ phiếu, trái phiếu của từng thành viên nói trên.
8. Các yếu tố rủi ro
Các rủi
ro chung bao gồm:
-
Việc tăng, giảm giá chứng khoán phụ thuộc vào các điều kiện của TTCK nói chung,
của tình trạng kinh tế đất nước và thế giới;
- Những
thay đổi trong chính sách của Chính phủ;
- Những
rủi ro về ngoại hối;
- Những
thay đổi về tỷ lệ lãi suất;
Những
rủi ro có thể xảy ra của công ty bao gồm:
-
Sự phụ thuộc vào những cán bộ chủ chốt;
- Sự
phụ thuộc vào một số ít các khách hàng, nhà cung cấp hoặc các dự án trong nội
bộ công ty;
- Những
thay đổi về giá nguyên liệu thô;
- Sự
hợp nhất giưã các đối thủ cạnh tranh hoặc các công ty mới tham gia vào ngành;
- Tranh
chấp cụ thể đã bắt đầu phát sinh hoặc bị mang ra toà.
Trong
phần này bạn cần tìm hiểu xem Hội đồng quản trị của công ty định giải quyết
hoặc làm giảm ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro đã xác định như thế nào.
Câu 8. Xin cho hỏi giá cổ phiếu của một công ty khi niêm yết phụ
thuộc vào điều gì?
Trước hết có thể khẳng định rằng câu hỏi giống như câu hỏi của bạn hay tương
tự, đã làm đau đầu các nhà học giả, các nhà đầu tư chứng khoán hàng mấy trăm
năm kể từ khi TTCK ra đời, nếu bạn là một fan bóng đá, bạn cũng thấy khó khăn
như thế nào để dự đoán kết quả của một trận cầu, thì ở đây khó khăn cũng chẳng
kém, nếu bạn cho là khó hơn thì cũng không sao. Và ở trong hầu hết mọi trường
hợp, câu trả lời có một điểm chung thống nhất là giá cổ phiếu dường như là một
điều gì đó rất bí ẩn, rất khó nắm bắt.
Dưới đây xin trích đăng tóm tắt những kết luận, ý kiến của các nhà kinh tế,
các nhà hoạt động thị trường trên thế giới về những nhân tố chủ yếu có thể ảnh
hưởng đến giá cổ phiếu để bạn tham khảo. Tuy nhiên, cũng xin lưu ý bạn rằng,
tác động của các nhân tố này tới giá cổ phiếu như thế nào cũng còn rất nhiều
tranh luận. Các yếu tố này có thể chia thành 3 nhóm yếu tố, đó là: các yếu tố
kinh tế, các yếu tố phi kinh tế, và các yếu tố thị trường.
1. Nhóm yếu tố kinh tế
Về tăng trưởng kinh tế, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát
triển và giảm khi nền kinh tế kém phát triển; tuy nhiên, có sự khác biệt đáng
kể giữa các nhóm cổ phiếu và tình hình biến động của từng cổ phiếu phụ thuộc
vào tình hình hoạt động cụ thể của từng công ty.
Về mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty,
giá cổ phiếu đôi khi xảy ra trước biến động hoạt động kinh doanh, đôi khi xảy
ra sau. Thời gian xảy ra và mức độ biến động này có sự chênh lệch đáng kể qua
theo dõi tình hình. Qua một thời gian dài, nhiều người cho rằng giá cổ phiếu
phổ thông thay đổi trước hoạt động kinh doanh.
Thu nhập công ty, những người theo trường phái này cho rằng, thu nhập hay lợi
nhuận của công ty được coi là nhân tố quan trọng nhất tác động tới giá cổ
phiếu. Những nhà kinh doanh và nhà đầu tư mua và bán cổ phiếu chủ yếu dựa trên
cơ sở dự đoán về mức thu nhập. Tuy nhiên, giá cổ phiếu không phải lúc nào cũng
có mối quan hệ chặt chẽ với thu nhập. Có những thời điểm, giá cổ phiếu tăng
nhanh hơn thu nhập; vào những thời điểm khác, nó bị tụt lại đằng sau thu nhập.
Đôi khi trên thực tế, nó lại biến động theo chiều hướng ngược lại với thu nhập.
Do vậy, dù một người theo dõi rất sát thị trường đã dự đoán đúng xu hướng thay
đổi của thu nhập, nhưng không có gì bảo đảm rằng anh ta có thể dự đoán chính
xác xu hướng biến đổi của giá cổ phiếu.
Cổ tức, những người theo trường phái này cho rằng cổ tức là nhân tố cơ bản,
chủ yếu thứ hai sau thu nhập, trong việc xác định giá chứng khoán. Thực chất
điều này không khác gì một câu thành ngữ cổ xưa “1 con chim trong nhà có trị
giá bằng 2 con chim trong rừng”. Tuy nhiên, cổ tức không đóng vai trò quan
trọng đối với loại cổ phiếu tăng trưởng là loại cổ phiếu mà người ta coi sự
tăng giá của chúng là rất quan trọng, thường xuyên mang lại lợi suất đầu tư
cuối cùng lớn hơn nhiều so với cổ tức hiện tại. Một công ty tăng trưởng có khả
năng sử dụng số vốn này có hiệu quả hơn cho các cổ đông, là những người luôn
phải tìm kiếm cơ hội đầu tư. Trong tất cả các nhân tố báo chí sử dụng để giải
thích về sự biến động giá hàng ngày của từng cổ phiếu, các thông tin về cổ tức
luôn được xếp ở vị trí quan trọng gần đầu.
Lãi suất, mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là gián tiếp và luôn thay
đổi. Nguyên nhân là do luồng thu nhập từ cổ phiếu có thể thay đổi theo lãi
suất và chúng ta không thể chắc chắn liệu sự thay đổi của luồng thu nhập này
có làm tăng hay bù đắp cho mức biến động về lãi suất hay không. Để giải thích
rõ vấn đề này, chúng ta sẽ xem xét các khả năng có thể xảy ra khi tỷ lệ lạm
phát tăng, cụ thể như sau:
Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng và thu nhập công ty theo đó cũng tăng vì
công ty có thể tăng giá cho phù hợp với mức tăng của chi phí. Trong trường hợp
này, giá cổ phiếu có thể khá ổn định vì ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng tỷ
suất lợi nhuận đã được đền bù một phần hay toàn bộ bởi phần tăng của tỷ lệ
tăng trưởng thu nhập và cổ tức.
Lãi suất tăng, nhưng luồng thu nhập dự tính thay đổi rất ít do công ty không
có khả năng tăng giá để phù hợp với chi phí tăng, do vậy, giá cổ phiếu giảm.
Tỷ suất lợi nhuận quy định có thể tăng nhưng tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức là
không đổi, nên mức chênh lệch giữa 2 nhân tố này càng lớn.
Lãi suất tăng trong khi luồng thu nhập giảm vì các nguyên nhân làm tăng lãi
suất lại gây tác động xấu tới thu nhập của công ty. Hoặc là người ta có thể
hình dung thời kỳ lạm phát trong đó chi phí sản xuất tăng, nhưng nhiều công ty
không thể tăng giá, dẫn tới biên độ lợi nhuận giảm. Tác động của một loạt các
sự kiện này là rất tồi tệ. Trong những trường hợp này, giá cổ phiếu sẽ sụt
nghiêm trọng vì tỷ suất lợi nhuận giảm khi cổ tức giảm, dẫn tới chênh lệch
giữa 2 nhân tố này càng lớn.
Đối với những trường hợp ngược lại so với các trường hợp trên, bạn có thể hình
dung ra một loạt các khả năng ngược lại khi lạm phát và lãi suất giảm. Mối
quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và giá cổ phiếu là một vấn đề đòi hỏi phải có
kinh nghiệm và ảnh hưởng của chúng thay đổi theo từng thời kỳ. Do vậy, mặc dù
mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và thu nhập từ cổ phiếu là tiêu cực, nhưng
điều này không phải lúc nào cũng đúng. Hơn nữa, ngay cả khi điều này là đúng
trên toàn bộ thị trường, thì vẫn tồn tại một số ngành nhất định có thể có thu
nhập và cổ tức tạo ảnh hưởng tích cực từ những biến động về lạm phát và lãi
suất. Trong trường hợp này, giá cổ phiếu có mối quan hệ tốt với lạm phát và
lãi suất.
Giá cả hàng hoá (lạm phát), Lịch sử TTCK Mỹ đã cung cấp nhiều thông tin về sự
bất cập của giá chứng khoán trong mối quan hệ với giá hàng hoá. Từ năm 1923
tới 1929 là một giai đoạn đáng ghi nhớ khi giá bán buôn ổn định và giá hàng
hoá có xu hướng giảm nhẹ. Tuy nhiên, trong thời kỳ đó, giá chứng khoán theo
thống kê tăng vọt phổ biến trên các thị trường đầu cơ giá lên. Ngược lại, giá
hàng hoá tăng vào năm 1940, 1941, và 1942, nhưng giá cổ phiếu lại hạ. Vào mùa
xuân năm 1946, việc kiểm soát giá hàng hoá đã bị bãi bỏ, và lạm phát về giá
hàng hoá đã lên tới đỉnh điểm cho đến hết năm và tiếp tục tăng cho đến đến
giữa năm 1948, giá cả tăng đều trong hai năm. Giá cổ phiếu bắt đầu biến động
gần như vào đúng ngày giá hàng hoá bắt đầu tăng vào năm 1946; giá cổ phiếu
giảm mạnh từ tháng 8 cho tới cuối năm. Nói cách khác, giá chứng khoán sụp đổ
vào năm 1946 đúng vào thời điểm nguy cơ lạm phát tăng mạnh nhất do ảnh hưởng
của Chiến tranh thế giới lần thứ II.
Sự không nhất quán trong các phản ứng của giá cổ phiếu trước sự thay đổi giá
hàng hoá đã làm nhà phân tích ngày càng chán nản bởi vì giá cổ phiếu trước đây
thường có xu hướng biến động trước khi giá hàng hoá biến động tới vài tháng.
Do vậy, dường như giá hàng hoá với tư cách là một chỉ số của giá chứng khoán
tỏ ra không đáng tin cậy và có lẽ là không có giá trị.
Các yếu tố kinh tế khác
Trong những năm gần đây, các chỉ số hàng đầu thường được các nhà dự báo chứng
khoán nhắc tới bao gồm số liệu về việc làm, những thay đổi về hàng tồn kho, và
những biến động về lượng cung tiền. Lãi suất cơ bản (thường là lãi suất trái
phiếu chính phủ) trong những năm gần đây đã thu hút sự chú ý đáng kể cho dù từ
lâu nó chỉ được coi là một nhân tố không đáng kể chứ không phải là nhân tố
hàng đầu. Bởi vì giá chứng khoán là một trong những chỉ số được coi trọng nhất
trong 12 chỉ số hàng đầu, nên các nhà dự báo cho rằng tốt nhất nên dự tính lãi
suất cơ bản theo giá chứng khoán hơn là dự đoán giá chứng khoán theo những
thay đổi của lãi suất cơ bản.
Các chỉ số quan trọng khác bao gồm vốn vay liên ngân hàng, các khoản vay
thương mại và dịch vụ, giao dịch vốn trên thị trường tiền tệ, và các số liệu
về giao dịch và thanh toán của quỹ tương hỗ.
2. Nhóm yếu tố phi kinh tế
Nhóm nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tiếp theo là những yếu tố phi kinh tế, bao gồm
sự thay đổi về các điều kiện chính trị, ví dụ chiến tranh hoặc thay đổi cơ cấu
Chính phủ, thay đổi về thời tiết và những nhân tố tự nhiên khác, và thay đổi
về điều kiện văn hoá, như tiến bộ về công nghệ v.v Tuy nhiên, những yếu tố này
chỉ có ảnh hưởng lớn đối với giá chứng khoán ở những nước có nền kinh thế thị
trường phát triển, thị trường sẽ đánh giá những chính sách này. Trong điều
kiện Việt Nam, nền chính trị ổn định, mặt khác TTCK còn chưa phát triển, thì
yếu tố này ít có tác động.
3. Nhóm yếu tố thị trường
Các yếu tố thị trường, là những nhân tố bên trong của thị trường, bao gồm sự
biến động thị trường và mối quan hệ cung cầu có thể được coi là nhóm yếu tố
thứ ba tác động tới giá cổ phiếu. Sự biến động thị trường là một hiện tượng
chờ đợi thái quá từ việc dự tính quá cao giá trị thực chất của cổ phiếu khi
giá cổ phiếu cao nhờ sự phát đạt của công ty, và ngược lại do dự đoán thấp giá
trị tại thời điểm thị trường đi xuống. Mối quan hệ giữa cung và cầu được trực
tiếp phản ánh thông qua khối lượng giao dịch trên thị trường, hoạt động của
những nhà đầu tư có tổ chức, giao dịch ký quỹ v.v cũng có ảnh hưởng đáng kể.
Mặc dù số lượng giao dịch ký quỹ tăng khi mà giá cổ phiếu tăng, nhưng một khi
giá cổ phiếu giảm số lượng cổ phiếu bán ra tăng và làm cho giá càng giảm.
Như vậy, dao động giá cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi sự kết hợp của nhiều nhân tố
khác nhau, hạt nhân chính là các yếu tố về khả năng thu nhập công ty.
Đối với TTCK Việt Nam, theo quan điểm cá nhân của tác giả bài viết này, thì
giá cổ phiếu của công ty niêm yết về cơ bản cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố
nói trên nhưng mức độ không rõ ràng. Có thể thống kê những yếu tố chủ yếu sau:
Yếu tố tâm lý “bầy đàn”, thuộc nhóm yếu tố thị trường nói ở trên, thể hiện
tương đối rõ nét nhất là ở trong giai đoạn đầu thị trường mới thành lập. Bạn
có thể thấy rõ hiện tượng này qua biểu hiện giá của đa số các cổ phiếu đều lên
hoặc đều xuống, giá cổ phiếu biến động tăng /giảm không phản ánh tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, mà chủ yếu do yếu tố tâm lý của
người đầu tư trên thị trường. Sau này mới có sự phân hoá về biến động giá giữa
các loại cổ phiếu khác nhau, tuy nhiên, hiện nay yếu tố này vẫn chiếm xu thế
chủ đạo.
Thu nhập công ty, yếu tố này có tác động tương đối rõ rệt tới giá cổ phiếu,
chẳng hạn vừa qua giá cổ phiếu của CTCP Chế biến hàng xuất khẩu Long An tăng
“kịch trần” nhiều phiên bởi Công ty công bố lợi nhuận sau thuế quý III /2004
đạt 8, 6 tỷ đồng tăng hơn 140% so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài những yếu tố nói trên, có thể tính đến các yếu tố khác như mức trả cổ
tức, thông tin mua bán cổ phiếu của các thành viên trong ban lãnh đạo công ty,
thông tin tách gộp cổ phiếu, thông tin về việc phát hành thêm cổ phiếu, tin
đồn…Những người đầu tư chuyên nghiệp hơn có thể còn tìm hiểu các thông tin
liên quan đến chính sách của Chính phủ đối với TTCK, chính sách cổ phần hoá
DNNN, tình hình quản trị của công ty niêm yết, tên tuổi của CTCK bảo lãnh phát
hành hay tư vấn niêm yết cho công ty niêm yết.
Để kết thúc bài viết này, tác giả cho rằng lời khuyên sau đây của các nhà đầu
tư nổi tiếng trên TTCK thế giới đáng để bạn quan tâm, đó là từng nhà đầu tư
cần phải có những phân tích, suy xét của riêng mình trước khi đưa ra quyết
định mua hay bán, tránh bị ảnh hưởng bởi những trào lưu tâm lý trên thị trường.
Có như vậy thì từng nhà đầu tư mới có thể tìm kiếm được cho mình những cơ hội
đầu tư sinh lời bất kể tình hình giá cả thị trường biến động lên hay xuống.
Chúc bạn thành công.
Câu 9. Cách tính chỉ số HNX -
INDEX?
Chỉ số chứng khoán
được xây dựng để phản ánh sự biến động giá của toàn bộ hoặc một nhóm các chứng
khoán được giao dịch trên thị trường. Mỗi thị trường chứng khoán đều công bố
một hoặc một vài chỉ số chứng khoán, ví dụ như thị trường Mỹ có chỉ số DJIA,
S&P500, NASDAQ-100…, thị trường Đức có chỉ số DAX, thị trường Pháp có chỉ số
CAC…
Hiện nay, SGDCK Hà Nội đang công bố chỉ số cổ phiếu đó là: chỉ số HNX-Index, chỉ số
này được tính trong phiên giao dịch mỗi khi có một giao dịch cổ phiếu được
thực hiện. Như vậy, khi giá thực hiện của mỗi giao dịch cổ phiếu thay đổi thì
chỉ số HNX-Index sẽ thay đổi theo. Chỉ số HNX-Index phản ánh sự biến động
giá theo từng thời điểm. Cuối phiên giao dịch, SGDCK Hà Nội công bố chỉ số
HNX-Index đóng cửa (vào cuối ngày giao dịch) là chỉ số được tính bởi các mức
giá đóng cửa của các cổ phiếu.
Chỉ số
HNX-Index
Chỉ số HNX-Index
được tính toán bắt đầu từ ngày chính thức mở cửa phiên giao dịch đầu tiên của
thị trường (ngày 14/7/2005). Chỉ số này tính toán mức biến động giá của tất cả
các cổ phiếu giao dịch trên SGDCK Hà Nội. Phương pháp tính chỉ số
bằng cách so sánh tổng giá trị thị trường hiện tại với tổng giá trị thị trường
của các cổ phiếu niêm yết tại thời điểm gốc (Ngày mở cửa phiên giao dịch đầu
tiên). Do vậy, tại thời điểm phiên giao dịch đầu tiên của thị trường, chỉ số
có giá trị = 100.
Công thức tính chỉ
số thị trường:
Tổng
giá trị thị trường hiện tại (GTn)
HNX-Index
= --------------------------------------------------- x 100
Tổng giá trị thị trường gốc (GTo)
Hoặc:
å
Pit x Qit
HNX-Index =
----------------------- x 100
å
Pio x Qit
Trong đó,
Pit:
Giá
thị trường của cổ phiếu i vào thời điểm hiện tại
Qit:
Số
lượng cổ phiếu niêm yết của cổ phiếu i vào thời điểm hiện tại
Pio:Giá
thị trường của cổ phiếu i vào ngày cơ sở
i
: 1,……, n
Ví dụ 1 :
a. Tại thời điểm đóng cửa
phiên giao dịch thứ nhất ngày 14/7/2005:
|
# |
Mã CK |
Giá đóng
cửa |
SL Đăng ký
giao dịch |
Giá trị thị
trường |
|
01 |
CID |
17.800 |
541.000 |
9.629.800.000 |
|
02 |
GHA |
16.500 |
1.289.480 |
21.276.420.000 |
|
03 |
HSC |
55.000 |
580.000 |
31.900.000.000 |
|
04 |
KHP |
15.000 |
15.252.260 |
228.783.900.000 |
|
05 |
VSH |
13.000 |
122.500.000 |
1.592.500.000.000 |
|
06 |
VTL |
22.000 |
1.800.000 |
4.050.000.000 |
|
|
Tổng |
|
|
1.924.590.120.000 |
1.924.590.120.000
=> HNX-Index =
------------------------- x 100 =100
1.924.590.120.000
Giá trị thị
trường gốc = 1.924.590.120.000
b. Tại thời điểm
đóng cửa phiên giao dịch thứ hai ngày 18/7/2005:
|
# |
Mã CK |
Giá đóng
cửa |
SL cổ phiếu
niêm yết |
Giá trị thị
trường |
|
01 |
CID |
16.000 |
541.000 |
8.656.000.000 |
|
02 |
|
18.200 |
1.289.480 |
23.468.536.000 |
|
03 |
HSC |
53.600 |
580.000 |
31.088.000.000 |
|
04 |
KHP |
14.500 |
15.252.260 |
221.157.770.000 |
|
05 |
VSH |
13.000 |
122.500.000 |
1.592.500.000.000 |
|
06 |
VTL |
21.000 |
1.800.000 |
37.800.000.000 |
|
|
Tổng |
|
|
1.914.670.306.000 |
1.914.670.306.000
=> HNX-Index =
--------------------------- x 100 =99,48
1.924.590.120.000
|